Bỏ qua đến nội dung
LOUIS GROUP
← Quay lại bài viết
Đài Loan 23 tháng 9, 2026

Quốc tịch và đăng ký khai sinh cho con trong hôn nhân Việt – Đài 2026: Con có được song tịch không? Luật Quốc tịch sửa đổi, thủ tục khai sinh và cách đặt tên

Stella Vu Stella Vu Đối tác cấp cao của Louis & Partners HCM Quốc tịch và đăng ký khai sinh cho con trong hôn nhân Việt – Đài 2026

Tóm tắt những điểm chính

  • Với con của vợ chồng Việt – Đài, quốc tịch cần được quyết định trước khi đăng ký khai sinh, vì nó ảnh hưởng đến hộ chiếu, cách ghi tên, đăng ký cư trú, đi học, xuất nhập cảnh và việc chứng minh quan hệ cha mẹ – con.
  • Theo Luật Quốc tịch sửa đổi có hiệu lực từ 01/7/2025 (Luật 79/2025) và Nghị định 191/2025: cha mẹ thỏa thuận bằng văn bản chọn quốc tịch Việt Nam khi khai sinh → con có quốc tịch Việt Nam; con sinh tại Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được → quốc tịch Việt Nam; cha mẹ cùng chọn quốc tịch Đài Loan và có đủ giấy tờ → quốc tịch Đài Loan.
  • "Thực sự không thỏa thuận được" khác với "đã thỏa thuận chọn Đài Loan nhưng chưa đủ giấy tờ" — trường hợp sau không bị coi là không thỏa thuận được.
  • Việt Nam theo nguyên tắc một quốc tịch nhưng có ngoại lệ; Luật Quốc tịch Đài Loan (Điều 2) lại cho con có cha hoặc mẹ là công dân Đài Loan đương nhiên có quốc tịch Đài Loan — do hai hệ thống pháp luật áp dụng độc lập, con có thể đồng thời có hai quốc tịch, nhưng trên lãnh thổ Việt Nam chỉ được công nhận quốc tịch Việt Nam.
  • Từ 01/7/2025, Việt Nam vận hành chính quyền địa phương hai cấp; đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài chuyển về UBND cấp xã (xã, phường, đặc khu).
  • Chọn quốc tịch Việt Nam thì tên trên giấy khai sinh chỉ được ghi bằng tiếng Việt, không ghi chữ Hán; còn hộ tịch Đài Loan bắt buộc ghi bằng chữ Hán — cách phiên âm cần thống nhất ngay từ đầu.

Trong nhiều năm hỗ trợ các gia đình Việt – Đài tại TP. Hồ Chí Minh, khó khăn mà tôi gặp nhiều nhất là: cha mẹ đăng ký khai sinh ở một bên trước, nhưng chưa nghĩ kỹ giấy tờ đó sau này sẽ được dùng ở bên kia như thế nào. Kết quả là con có hai bộ giấy tờ mà tên, cách phiên âm hoặc thông tin quốc tịch không khớp nhau. Việc điều chỉnh về sau thường tốn thời gian gấp nhiều lần so với chuẩn bị đúng ngay từ đầu.

Bài viết này trình bày theo đúng trình tự làm thủ tục thực tế: xác định quốc tịch của con, khả năng song tịch, thủ tục khai sinh có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, quy định về tên, nhập quốc tịch sau này, và đăng ký hộ tịch phía Đài Loan.

1. Luật Quốc tịch sửa đổi 2025: ba trường hợp con có quốc tịch Việt Nam

Cơ sở pháp lý chính là Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 56/2014/QH13 và Luật số 79/2025/QH15 ngày 24/6/2025, có hiệu lực từ 01/7/2025, cùng Nghị định số 191/2025/NĐ-CP có hiệu lực cùng ngày.

Theo Điều 16 Luật Quốc tịch (đã sửa đổi) và Điều 9 Nghị định 191/2025, trẻ em sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, người còn lại là công dân nước ngoài, được xác định quốc tịch Việt Nam như sau:

  • Cha mẹ thỏa thuận lựa chọn quốc tịch Việt Nam khi đăng ký khai sinh → con có quốc tịch Việt Nam.
  • Con sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch → con có quốc tịch Việt Nam (cha hoặc mẹ lập văn bản cam đoan về việc không thỏa thuận được).
  • Cha mẹ cùng chọn quốc tịch Đài Loan và hoàn tất đúng giấy tờ → con được xác định có quốc tịch Đài Loan (nước ngoài) đã chọn.
Tình huốngQuốc tịch Việt Nam của conCăn cứ
Cha mẹ thỏa thuận bằng văn bản chọn quốc tịch Việt Nam khi khai sinhKhoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch; điểm a khoản 1 Điều 9 Nghị định 191/2025
Sinh tại Việt Nam, cha mẹ thực sự không thỏa thuận được (có bản cam đoan)Có, đương nhiên từ khi sinhKhoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch; điểm b khoản 1 Điều 9 Nghị định 191/2025
Cha mẹ cùng chọn quốc tịch Đài Loan, văn bản thỏa thuận có xác nhận của cơ quan Đài LoanKhông (có quốc tịch Đài Loan)Khoản 1 Điều 36 Luật Hộ tịch
Đã khai sinh ở nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài, chọn quốc tịch Việt Nam khi ghi vào Sổ hộ tịchCó, và có thể giữ quốc tịch nước ngoàiĐiểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 191/2025

Ngoài ra, theo điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 191/2025: nếu con đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài, mà khi ghi vào Sổ hộ tịch cha mẹ thỏa thuận chọn quốc tịch Việt Nam, và việc giữ quốc tịch nước ngoài phù hợp với pháp luật của nước đó, thì con có quốc tịch Việt Nam và có thể đồng thời mang hai quốc tịch; cha mẹ phải có bản cam đoan.

Một điểm cần làm rõ: "cha mẹ thực sự không thỏa thuận được" khác với "cha mẹ đã thỏa thuận chọn quốc tịch Đài Loan nhưng chưa chuẩn bị đủ giấy tờ". Chỉ vì thiếu giấy tờ hoặc thiếu xác nhận của cơ quan Đài Loan, không đương nhiên bị coi là không thỏa thuận được. Vì vậy, trước khi khai sinh, cha mẹ nên thống nhất ba việc: quốc tịch của con, nơi đăng ký khai sinh lần đầu, và cách ghi tên của con tại Việt Nam và Đài Loan.

2. Con có được đồng thời mang quốc tịch Việt Nam và Đài Loan không?

Điều 4 Luật Quốc tịch quy định công dân Việt Nam về nguyên tắc chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp Luật có quy định khác. Nguyên tắc một quốc tịch không có nghĩa pháp luật Việt Nam tuyệt đối cấm công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài trong mọi trường hợp. Trên thực tế, song tịch có thể phát sinh do huyết thống, do kết quả áp dụng luật quốc tịch của các nước khác nhau, hoặc do pháp luật Việt Nam cho phép giữ quốc tịch nước ngoài.

Liên quan trực tiếp đến con trong hôn nhân Việt – Đài là khoản 2 Điều 16 và Điều 9 Nghị định 191/2025 (đã nêu ở phần 1). Ngoài ra, theo Điều 19 và Điều 23, người xin nhập hoặc xin trở lại quốc tịch Việt Nam, nếu đủ điều kiện và được Chủ tịch nước cho phép, cũng có thể được giữ quốc tịch nước ngoài — cho thấy nguyên tắc một quốc tịch có ngoại lệ. Tuy nhiên, khoản 4 Điều 5 quy định: trên lãnh thổ Việt Nam, đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài, Việt Nam về nguyên tắc chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam trong quan hệ với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam (trừ khi điều ước quốc tế có quy định khác).

Về phía Đài Loan: theo Điều 2 Luật Quốc tịch của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), người sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Đài Loan thì có quốc tịch Đài Loan, không phụ thuộc vào nơi sinh. Do đó, chỉ cần cha hoặc mẹ là người Đài Loan, con đương nhiên có quốc tịch Đài Loan theo luật Đài Loan; nếu cha mẹ đồng thời thỏa thuận chọn quốc tịch Việt Nam theo Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam, con có thể có cả hai quốc tịch do hai hệ thống pháp luật áp dụng độc lập.

Cần lưu ý: việc có quốc tịch, việc đăng ký khai sinh, đăng ký hộ tịch và xin cấp hộ chiếu là những thủ tục pháp lý khác nhau. Con đã hoàn tất đăng ký, có hộ tịch hay hộ chiếu chưa, vẫn phải làm theo pháp luật và thủ tục hành chính của từng bên; và khi làm việc với cơ quan Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam, con về nguyên tắc được xử lý với tư cách công dân Việt Nam.

3. Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam: từ 01/7/2025 do UBND cấp xã giải quyết

Cơ quan có thẩm quyền đã thay đổi. Trước 01/7/2025, theo Luật Hộ tịch số 60/2014/QH13, đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện. Từ 01/7/2025, Việt Nam thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chấm dứt hoạt động của cấp huyện; theo Nghị định số 120/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025, thẩm quyền đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài được chuyển về UBND cấp xã. Vì vậy, khi con sinh tại Việt Nam, có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam và người kia là người Đài Loan, hồ sơ nộp tại UBND xã, phường hoặc đặc khu nơi cha hoặc mẹ cư trú.

Hồ sơ đăng ký khai sinh thực hiện theo Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 07/2025/NĐ-CP ngày 09/01/2025), thường gồm:

  1. Tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu;
  2. Giấy chứng sinh do cơ sở y tế cấp, hoặc giấy tờ thay thế giấy chứng sinh;
  3. Hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh của cả cha và mẹ;
  4. Giấy chứng nhận kết hôn (nếu thông tin hôn nhân chưa có trong cơ sở dữ liệu hoặc cần đối chiếu);
  5. Văn bản thỏa thuận của cha mẹ về việc lựa chọn quốc tịch cho con (khoản 1 Điều 36 Luật Hộ tịch; nếu chọn quốc tịch Đài Loan, văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của Đài Loan);
  6. Giấy tờ về nơi cư trú (nếu cơ quan hộ tịch không khai thác được từ cơ sở dữ liệu);
  7. Giấy tờ khác tùy nơi sinh, tình trạng hôn nhân và quốc tịch được lựa chọn.

Nếu không có giấy chứng sinh, cha mẹ phải nộp giấy tờ thay thế theo Luật Hộ tịch, ví dụ văn bản của người làm chứng xác nhận việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh. Giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh và giấy tờ khác do cơ quan Đài Loan cấp về nguyên tắc phải được hợp pháp hóa lãnh sự, dịch sang tiếng Việt và chứng thực trước khi sử dụng tại Việt Nam.

4. Đặt tên cho con: giấy khai sinh Việt Nam chỉ ghi tiếng Việt, hộ tịch Đài Loan chỉ ghi chữ Hán

Đây là khâu các gia đình Việt – Đài hay gặp rắc rối nhất nhưng ít ai nghĩ đến trước.

Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự (91/2015/QH13), tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không đặt tên bằng số hoặc ký tự không phải chữ viết; khoản 1 Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp còn yêu cầu việc đặt tên phải phù hợp với bản sắc dân tộc, truyền thống văn hóa Việt Nam và không đặt tên quá dài, khó sử dụng. Do đó, khi chọn quốc tịch Việt Nam, tên của con trên giấy khai sinh phải viết bằng chữ cái tiếng Việt; chữ Hán phồn thể không được ghi trực tiếp vào mục họ, chữ đệm, tên. Cha mẹ có thể chọn một tên tiếng Việt có ý nghĩa tương ứng với tên chữ Hán, hoặc cách thể hiện phù hợp với nguồn gốc hai bên, nhưng phải đúng quy định về tên của công dân Việt Nam và được cơ quan hộ tịch chấp nhận.

Ở phía Đài Loan, theo thực tiễn hộ tịch, tên chính thức của công dân phải được đăng ký bằng chữ Hán. Nghĩa là cùng một đứa trẻ sẽ có "một tên tiếng Việt + một tên chữ Hán" trên giấy tờ chính thức hai bên. Cách sắp xếp thường gặp trong thực tế:

  • Dùng tên tiếng Việt trên giấy khai sinh và hộ chiếu Việt Nam;
  • Đăng ký tên chữ Hán trong hộ tịch Đài Loan;
  • Thống nhất thêm một cách phiên âm Latinh cố định làm cầu nối đối chiếu giấy tờ hai bên.
Nội dungViệt NamĐài Loan
Chữ viết của tênChữ cái tiếng Việt, không ghi chữ HánChữ Hán
Căn cứKhoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự; Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTPThực tiễn hộ tịch Đài Loan
Cơ quan đăng ký khai sinhUBND xã, phường hoặc đặc khu nơi cha hoặc mẹ cư trú (từ 01/7/2025)Cơ quan hộ chính (con sinh tại Việt Nam xin giấy chứng nhận định cư trước)
Giấy tờ nước ngoài trước khi sử dụngGiấy tờ Đài Loan phải hợp pháp hóa lãnh sự, dịch sang tiếng Việt và chứng thựcGiấy khai sinh Việt Nam phải được Cơ quan đại diện Đài Loan chứng nhận, kèm bản dịch tiếng Trung

Cha mẹ nên thống nhất ngay từ đầu về họ, thứ tự họ tên và cách phiên âm. Dùng nhiều cách phiên âm khác nhau có thể gây khó khăn khi xin hộ chiếu, đăng ký cư trú, nhập học, mua vé máy bay hoặc chứng minh quan hệ gia đình. Nếu tên trên giấy tờ Việt Nam và Đài Loan không hoàn toàn giống nhau, gia đình cần lưu giữ giấy khai sinh, bản dịch và giấy tờ liên quan để chứng minh đó là các cách thể hiện tên khác nhau của cùng một người.

5. Khi khai sinh không chọn quốc tịch Việt Nam thì xử lý thế nào? Ba tình huống thường gặp

Tình huống 1: con sinh tại Việt Nam, cha mẹ thực sự không thỏa thuận được. Theo khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch (đã sửa đổi), con có quốc tịch Việt Nam và không cần làm thủ tục xin nhập quốc tịch — quốc tịch Việt Nam được xác định theo luật ngay từ khi sinh. Việc cần làm là đăng ký khai sinh, đăng ký khai sinh quá hạn, hoặc xử lý thông tin hộ tịch theo hồ sơ thực tế. Nếu giấy khai sinh đã cấp nhưng mục quốc tịch bỏ trống hoặc ghi không đúng, cha mẹ nên đề nghị cơ quan hộ tịch kiểm tra hồ sơ gốc để xác định đúng thủ tục: bổ sung hộ tịch, cải chính hộ tịch hay xác định quốc tịch — không phải mọi sai lệch về quốc tịch đều giải quyết được bằng thủ tục cải chính thông thường.

Tình huống 2: cha mẹ đã thống nhất chọn quốc tịch Đài Loan nhưng thiếu giấy tờ. Đây không phải là trường hợp không thỏa thuận được. Nếu con chưa đăng ký khai sinh, cha mẹ có thể bổ sung văn bản thỏa thuận đúng hình thức và xác nhận của cơ quan Đài Loan trước khi nộp hồ sơ. Nếu con đã đăng ký khai sinh và được xác định có quốc tịch Đài Loan, việc sau này muốn có quốc tịch Việt Nam không còn là "lựa chọn quốc tịch khi khai sinh" nữa, mà phải đánh giá thủ tục quốc tịch phù hợp với tình trạng hiện tại của con.

Tình huống 3: con sinh tại Đài Loan hoặc nước khác. Đây là tình huống rất phổ biến với các gia đình có vợ hoặc chồng Việt Nam đang sinh sống tại Đài Loan. Nếu con chưa từng đăng ký khai sinh, cha mẹ có thể chọn quốc tịch Việt Nam khi đăng ký khai sinh lần đầu tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Nhưng nếu con đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan nước ngoài và được xác định có quốc tịch Đài Loan, cha mẹ không nên đăng ký khai sinh lần thứ hai tại Việt Nam; thủ tục đúng là ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh đã được đăng ký tại cơ quan nước ngoài. Cần đặc biệt lưu ý: ghi vào Sổ hộ tịch không đồng nghĩa với việc con đương nhiên được xác định có quốc tịch Việt Nam — nếu khi khai sinh ở nước ngoài cha mẹ không chọn quốc tịch Việt Nam, thì việc bổ sung quốc tịch Việt Nam sau này phải được xem xét theo quy định pháp luật về quốc tịch.

6. Sau này có thể xin nhập quốc tịch Việt Nam cho con không?

Con chưa có quốc tịch Việt Nam có thể xin nhập quốc tịch Việt Nam theo Điều 19 Luật Quốc tịch (đã sửa đổi) và được xem xét; hồ sơ, tiếp nhận và giải quyết theo Luật Quốc tịch và Nghị định 191/2025. Người có cha đẻ hoặc mẹ đẻ là công dân Việt Nam thuộc diện được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch theo điểm a khoản 3 Điều 19. Với con chưa thành niên, cha, mẹ hoặc người đại diện hợp pháp làm thủ tục; nếu luật yêu cầu lấy ý kiến của con thì hồ sơ phải thể hiện sự đồng ý của con.

Hồ sơ tối thiểu cần làm rõ: giấy khai sinh và quan hệ cha mẹ – con; quốc tịch hiện tại của con; quốc tịch Việt Nam của cha hoặc mẹ; nơi cư trú của con; lý do xin nhập quốc tịch; tên tiếng Việt dự kiến sử dụng; và (nếu có) nguyện vọng giữ quốc tịch Đài Loan. Việc con có được giữ quốc tịch Đài Loan sau khi nhập quốc tịch Việt Nam hay không phải được xem xét theo Luật 79/2025, Nghị định 191/2025 và pháp luật Đài Loan — không phải quyền đương nhiên; quyết định cho nhập quốc tịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.

Trước khi lập hồ sơ, cần kiểm tra con đã có quốc tịch Việt Nam từ khi sinh theo Điều 16 hay chưa — nếu đã có thì không cần và cũng không phù hợp để làm thủ tục nhập quốc tịch. Trên thực tế đã có nhiều trường hợp con có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam được đăng ký khai sinh, xác định quốc tịch hoặc được nhập quốc tịch; tuy nhiên, do liên quan đến nhân thân và trẻ em, phần lớn các quyết định cụ thể không được công bố đầy đủ, và hiện chưa có cơ sở dữ liệu công khai thống kê riêng kết quả các vụ việc con trong hôn nhân Việt – Đài.

7. Thủ tục phía Đài Loan: khai sinh, hộ tịch và hộ chiếu

Thủ tục phía Đài Loan tương đối đơn giản, nhưng cần lưu ý sự kết nối giấy tờ. Sau khi con đương nhiên có quốc tịch Đài Loan theo Điều 2 Luật Quốc tịch Đài Loan, cha mẹ đăng ký khai sinh và đăng ký hộ tịch tại Cơ quan hộ chính (戶政事務所) để có thể xin hộ chiếu. Nếu con sinh tại Việt Nam, giấy khai sinh do Việt Nam cấp phải được Cơ quan đại diện Đài Loan tại Việt Nam chứng nhận và kèm bản dịch tiếng Trung mới sử dụng được tại cơ quan hộ chính Đài Loan; con sinh tại Việt Nam thường được Cơ quan đại diện Đài Loan cấp hộ chiếu và giấy phép nhập cảnh trước; sau khi nhập cảnh Đài Loan, cha mẹ xin giấy chứng nhận định cư tại Sở Di dân, rồi trong vòng 30 ngày kể từ ngày cấp đến Cơ quan hộ chính làm thủ tục lập hộ tịch lần đầu. Tên trong hộ tịch Đài Loan phải ghi bằng chữ Hán — đây chính là lý do của việc "mỗi bên một tên" đã nêu ở phần 4, và sự tương ứng giữa tên chữ Hán và tên tiếng Việt nên được cố định ngay lần đăng ký đầu tiên.

8. Khuyến nghị thực tiễn cho gia đình Việt – Đài

  • Trước khi khai sinh, thống nhất bằng văn bản ba việc: quốc tịch của con, tên (tiếng Việt, chữ Hán và cách phiên âm cố định), và nơi đăng ký lần đầu.
  • Chọn quốc tịch Đài Loan: chuẩn bị trước thủ tục để cơ quan Đài Loan xác nhận văn bản thỏa thuận chọn quốc tịch của cha mẹ. Chọn quốc tịch Việt Nam: tên của con phải ghi đúng quy định về tên của công dân Việt Nam.
  • Con sinh tại Đài Loan: quyết định rõ đăng ký khai sinh lần đầu tại cơ quan Đài Loan hay Cơ quan đại diện Việt Nam; nếu đã khai sinh ở nước ngoài thì tại Việt Nam chỉ làm thủ tục ghi vào Sổ hộ tịch, không đăng ký khai sinh lại.
  • Giấy tờ do Đài Loan cấp trước khi dùng tại Việt Nam: kiểm tra có cần hợp pháp hóa lãnh sự, dịch và chứng thực hay không; khi nhận kết quả, đối chiếu kỹ họ tên, ngày sinh, nơi sinh, quốc tịch và thông tin cha mẹ.
  • Giữ thống nhất cách phiên âm tên trên toàn bộ giấy tờ. Chỉ một khác biệt nhỏ về thứ tự hoặc cách viết cũng có thể gây trở ngại khi xin hộ chiếu, đăng ký cư trú, nhập học hoặc xuất nhập cảnh.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

Con của vợ chồng Việt – Đài mang quốc tịch gì? Có được đồng thời hai quốc tịch không?

Theo Điều 2 Luật Quốc tịch Đài Loan, con có cha hoặc mẹ là công dân Đài Loan đương nhiên có quốc tịch Đài Loan, không phụ thuộc nơi sinh. Theo Điều 16 Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi có hiệu lực 01/7/2025, con có quốc tịch Việt Nam nếu cha mẹ thỏa thuận bằng văn bản chọn quốc tịch Việt Nam khi khai sinh, hoặc con sinh tại Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được. Do hai hệ thống pháp luật áp dụng độc lập, con có thể đồng thời có hai quốc tịch; nhưng trên lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam về nguyên tắc chỉ công nhận quốc tịch Việt Nam. Có quốc tịch, đăng ký hộ tịch và cấp hộ chiếu là các thủ tục riêng, phải làm từng thủ tục.

Đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài cho con tại Việt Nam ở đâu? Cần giấy tờ gì?

Từ 01/7/2025, theo mô hình chính quyền hai cấp và Nghị định 120/2025/NĐ-CP, đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài do UBND xã, phường hoặc đặc khu nơi cha hoặc mẹ cư trú giải quyết (trước đây là cấp huyện). Hồ sơ thường gồm tờ khai đăng ký khai sinh, giấy chứng sinh, hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân của cha mẹ, giấy chứng nhận kết hôn, văn bản thỏa thuận chọn quốc tịch cho con, giấy tờ cư trú và giấy tờ khác tùy trường hợp. Giấy tờ do Đài Loan cấp về nguyên tắc phải hợp pháp hóa lãnh sự, dịch sang tiếng Việt và chứng thực.

Chọn quốc tịch Việt Nam thì có được ghi tên chữ Hán trên giấy khai sinh không?

Không. Theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Dân sự, tên công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam, không dùng số hoặc ký tự không phải chữ viết; chữ Hán phồn thể không được ghi trực tiếp vào mục họ tên trên giấy khai sinh Việt Nam. Cha mẹ có thể chọn tên tiếng Việt có ý nghĩa tương ứng với tên chữ Hán; hộ tịch Đài Loan đăng ký bằng chữ Hán; đồng thời thống nhất một cách phiên âm Latinh cố định để đối chiếu giấy tờ hai bên. Tên và cách phiên âm nên thống nhất ngay từ đầu.

Con sinh tại Đài Loan và đã đăng ký quốc tịch Đài Loan, có đăng ký khai sinh lại tại Việt Nam được không?

Không. Con đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan nước ngoài và được xác định có quốc tịch Đài Loan thì không đăng ký khai sinh lần thứ hai tại Việt Nam; thủ tục đúng là ghi vào Sổ hộ tịch việc khai sinh đã đăng ký ở nước ngoài. Tuy nhiên, ghi vào Sổ hộ tịch không đồng nghĩa với việc đương nhiên có quốc tịch Việt Nam — nếu khi khai sinh ở nước ngoài cha mẹ không chọn quốc tịch Việt Nam, muốn bổ sung sau này phải xin nhập quốc tịch theo Điều 19 Luật Quốc tịch và được xem xét.

Cha mẹ không thỏa thuận được quốc tịch khi khai sinh thì con mang quốc tịch gì?

Nếu con sinh trên lãnh thổ Việt Nam và cha mẹ thực sự không thỏa thuận được, theo khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch sửa đổi, con có quốc tịch Việt Nam ngay từ khi sinh, không cần làm thủ tục nhập quốc tịch, chỉ cần hoàn tất đăng ký khai sinh hoặc bổ sung thông tin hộ tịch. Cần phân biệt: cha mẹ đã thỏa thuận chọn quốc tịch Đài Loan mà chỉ chưa đủ giấy tờ thì không phải là "không thỏa thuận được"; khi đó nên bổ sung văn bản thỏa thuận và xác nhận của cơ quan Đài Loan trước khi nộp hồ sơ.

Sau này xin nhập quốc tịch Việt Nam cho con thì có phải bỏ quốc tịch Đài Loan không?

Không nhất thiết, nhưng cũng không đương nhiên được giữ. Theo điểm a khoản 3 Điều 19 Luật Quốc tịch sửa đổi, con có cha đẻ hoặc mẹ đẻ là công dân Việt Nam được miễn một số điều kiện nhập quốc tịch; cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp làm thủ tục cho con chưa thành niên; hồ sơ có thể nêu nguyện vọng giữ quốc tịch Đài Loan, nhưng việc được giữ hay không phải xem xét theo Luật 79/2025, Nghị định 191/2025 và pháp luật Đài Loan, và do Chủ tịch nước quyết định. Trước khi nộp hồ sơ, cần kiểm tra con đã có quốc tịch Việt Nam từ khi sinh theo Điều 16 hay chưa; nếu đã có thì không cần nhập quốc tịch.

Đọc thêm

Quốc tịch của con trong hôn nhân Việt – Đài nên được quy hoạch cùng lúc với đăng ký khai sinh, không nên đợi đến khi con cần hộ chiếu hay giấy tờ cư trú mới xử lý. Xác định rõ quốc tịch, tên và nơi đăng ký ngay từ đầu sẽ giúp gia đình tránh được rất nhiều khó khăn khi sử dụng giấy tờ của con tại cả Việt Nam và Đài Loan.

Tập đoàn Tư vấn Pháp lý Louis Group có văn phòng tại Hà Nội TP. Hồ Chí Minh , kết nối với trụ sở tại Đài Loan, và có đội ngũ nói tiếng Việt lẫn tiếng Trung. Chúng tôi hỗ trợ các gia đình Việt – Đài quy hoạch quốc tịch cho con, đăng ký khai sinh có yếu tố nước ngoài, hợp pháp hóa lãnh sự và dịch thuật giấy tờ, đăng ký tên, xin nhập quốc tịch sau này, cũng như thủ tục hộ tịch và hộ chiếu phía Đài Loan. Nếu gia đình bạn đang gặp vấn đề về quốc tịch và đăng ký cho con, hãy liên hệ với đội ngũ Việt Nam của chúng tôi.

Tác giả: Luật sư Stella Vu (Vũ Thị Ngọc Phục) | Louis Group

Bài viết cung cấp thông tin pháp lý chung, không thay thế ý kiến pháp lý cho từng trường hợp cụ thể. Quy định về quốc tịch, hộ tịch và cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có nhiều thay đổi từ năm 2025; khi thực hiện, vui lòng tham vấn luật sư và kiểm tra thông tin mới nhất từ cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và Đài Loan. Nội dung pháp luật Việt Nam trong bài được cập nhật đến tháng 9/2026.

Chia sẻ bài viết này